Tin tức

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

 

Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki - Moon

Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki - Moon

Năm nay, Ngày Nước thế giới (22/3) tập trung vào những mối liên kết giữa nước với việc làm. Gần một nửa số người lao động (1,5 tỷ) làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến nước và hầu như tất cả mọi công việc đều phụ thuộc vào nguồn nước.
Mặc dù là tối quan trọng nhưng nước lại là một lĩnh vực thường không nhận được sự quan tâm đáng có. Nước là cốt lõi cho sự tồn tại của con người, cho môi trường và kinh tế.

Tất cả mọi người lao động đều có thể bị tổn hại khi nước và điều kiện vệ sinh không đảm bảo. Gần 1/5 trong số 2 triệu người tử vong liên quan đến công việc lao động mỗi năm là do nước uống kém chất lượng, điều kiện vệ sinh không đảm bảo gây nên.


Tổng Thư ký Liên Hợp quốc Ban Ki - Moon 

Thường những người ít được tiếp cận với nước và điều kiện vệ sinh nhất cũng là những người không được hưởng các dịch vụ y tế và không có công vệc làm ổn định. Vì vậy mà cái nghèo cứ kéo dài thêm.

Điều tôi đặc biệt quan tâm là sự cách biệt giữa thành thị với nông thôn, giữa đàn ông với phụ nữ và giữa những người giàu với người nghèo. Việc cung cấp dịch vụ cơ bản đảm bảo về nước, vệ sinh tại gia đình, trường học, nơi công sở sẽ giúp có được một lực lao động hiệu quả, mạnh khỏe, nhờ đó sẽ tạo dựng nên một nền kinh tế hùng mạnh.

Chúng ta có thể hành động mạnh mẽ, ráo riết để giải quyết sự bất bình đẳng về nước như một phần nỗ lực của chúng ta nhằm thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững năm 2030.  Mục tiêu phát triển bền vững thứ 6 về đảm bảo cung cấp và quản lý bền vững tài nguyên nước và vệ sinh cho tất cả mọi người,  sẽ giải quyết nhu cầu tiếp cận về nước và vệ sinh.

Vào ngày nước thế giới hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau tái khẳng định cam kết của mình về tăng cường chất lượng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước như một phần của chiến dịch lịch sử nhằm đạt được đời sống phẩm giá cho tất cả mọi người. 

Nguồn: Trang thông tin điện tử Cục quản lý tài nguyên nước

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

Trung Quốc và Lào có thể sẽ hưởng lợi từ những con đập, còn hầu hết hậu quả sẽ dành cho những nước như Việt Nam và Campuchia, tờ Economist nhấn mạnh.

Mới đây, tờ Economist đã thống kê lại những con đập đã hoàn thành và đang lên kế hoạch tiến hành trên dòng sông Mê Kông.

 Dòng sông Mê Kông có chiều dài hơn 4.300 km, chảy từ thượng nguồn tại tỉnh Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao gần 5km so với mực nước biển, đến hạ nguồn là đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Khu vực sông Mê Kông là một trong những vùng có nguồn lợi ngư nghiệp dồi dào nhất thế giới, đồng thời có hệ sinh thái vô cùng đa dạng.

slide-daptieuloan1Đập thủy điện của Lào và Trung Quốc đang giết chết sông Mê Kông

Trong một công bố gần đây, các nhà khoa học cùng với Ủy ban sông Mê Kông (MRC) cho biết, chỉ riêng giá trị thủy sản được đánh bắt từ hạ lưu sông Mê Kông đã lên tới 17 tỷ USD một năm, góp 3% vào tổng GDP của nhóm các nước Việt Nam, Campuchia, Lào, và Thái Lan. Nếu so với tổng giá trị đánh bắt thủy sản toàn cầu của năm 2015 là 130 tỷ USD, thì sông Mê Kông đang chiếm tới 13%. 

Tuy nhiên, một số nước tiểu vùng Mê Kông như Trung Quốc, Lào và Campuchia giờ đây đang xem dòng sông là nguồn năng lượng của riêng những nước này. Trung Quốc đã xây dựng 6 đập thủy điện trên dòng Mê Kông chảy qua lãnh thổ nước này. Trong khi đó, Lào và Campuchia có kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện cùng với hàng chục con đập khác trên các nhánh sông chính.

Mekong.png1Bản đồ các con đập trên sông Mekong: màu nâu là đập đã xây, màu đỏ là đang xây, màu vàng cam là đang được lên kế hoạch, màu xám là đã bị hủy bỏ - Ảnh: The Economist

 Mặc dù nhu cầu năng lượng tại các nước tiểu vùng sông Mê Kông đang tăng cao, nhưng những con đập thủy điện này khi hoàn thành cũng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết. Trái lại, chúng còn có thể mang lại nhiều hiệu ứng phụ là đe dọa nguồn lợi thủy sản và nông nghiệp, khiến hàng triệu người có thể sẽ mất kế sinh nhai và buộc phải di dời đi nơi khác. Trung Quốc và Lào có thể sẽ hưởng lợi từ những con đập, còn hầu hết hậu quả sẽ dành cho những nước như Việt Nam và Campuchia, tờ Economist nhấn mạnh.

Để duy trì giá trị kinh tế đáng kể đó, nhiều người đã đồng ý rằng cần phải có biện pháp trì hoãn việc xây dựng các con đập trên dòng chảy chính của sông Mê Kông. Nếu các dự án như đập Xayaburi của Lào cứ tiếp diễn thì nó có thể đe dọa kế sinh nhai của khoảng 60 triệu dân cư đang sống phụ thuộc vào dòng sông này. Ngoài ra, biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ nhiễm mặn từ việc mực nước biển dâng cao là những mối đe dọa khác đối với sông Mê Kông.

NGUỒN: http://ndwrpi.gov.vn-REDS.VN

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

nuocngam

Ảnh minh họa

Do việc khai thác nước ngầm quá mức, trong khi quy hoạch các bãi giếng chưa hợp lý, nhiều địa phương ở Việt Nam đang bị lún sụt.
Bình quân các tỉnh, thành phố trong cả nước đang khai thác nước ngầm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất với số lượng  gần 5 triệu m3/ngày và dự báo sẽ còn tiếp tục tăng cao thời gian tới. Đây  là số liệu do ông Nguyễn Chí Công, Phó tổng giám đốc Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên nước quốc gia (NAWAPI) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thông tin tại hội thảo quốc tế về “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước vùng ven biển - kinh nghiệm quản lý nước dưới đất khu vực Đông Nam Á” được tổ chức tại thành phố Cần Thơ ngày 19/1.
 

Theo ông Nguyễn Chí Công, Việt Nam là quốc gia sử dụng chủ yếu nguồn nước ngầm để phục vụ sinh hoạt, sản xuất, trong đó, có một số địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc…, sử dụng gần như 100% nước ngầm. Do việc khai thác nước ngầm quá mức, trong khi quy hoạch các bãi giếng chưa hợp lý cũng như nguy cơ chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã, đang và sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho Việt Nam như nguồn nước ngầm ngày càng cạn kiệt, sụt lún đất, xâm nhập mặn…

 
nuocngam1
Nhiều địa phương ở Việt Nam sử dụng nguồn nước ngầm để sinh hoạt hàng ngày. (Ảnh minh họa: Infonet)

Kết quả quan trắc và nghiên cứu của Trung  tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên nước quốc gia, cho thấy ở các tỉnh/thành như TP HCM, Hải Phòng, Nam Định, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu..., mực nước ngầm đang hạ xuống mức báo động, chẳng hạn, ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nước ngầm đã hạ xuống gần 10m trong vòng một thập kỷ qua, còn tại TP HCM nước ngầm cũng đã hạ thấp gần 18m kể từ năm 1995.

Ông Nguyễn Chí Nghĩa, Trưởng ban quan trắc tài nguyên nước của Trung  tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên nước quốc gia, cho biết việc khai thác quá mức tài nguyên nước ngầm sẽ dẫn đến chất lượng nguồn nước suy giảm, nhất là ở khu vực ven biển đang có dấu hiệu bị suy thoái nghiêm trọng do nhiễm bẩn và mặn, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và đời sống của người dân.

Về giải pháp khai nước và  sử dụng ngồn nước có hiệu quả, ông Nguyễn Chí Nghĩa  định rằng việc khai thác nước là cần thiết, nhưng cần phải có kiểm soát.

“Kiểm soát ở đây  không chỉ đến từ mặt quản lý Nhà nước của  Bộ TN-MT mà còn quản lý Nhà nước của các tỉnh, thành phố, cũng như là cái ý thức của các  đối tượng, của các hộ khai thác nước. Thí vụ như nhà máy nước  hoặc là  các hộ khai thác nước đơn lẻ. Chúng ta phải  có hiểu biết  và chúng ta phải chấp hành quy định. Mực mước hạ thấp  chúng ta không được phép khai thác quá  mực đó thì sẽ đảm bảo chúng ta phát huy được nguồn này cũng như là duy trì được nguồn nước cho các thế hệ tiếp theo,” ông Nghĩa nhấn mạnh

Nguồn tin: vov.vn

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực

Tiếp tục chương trình làm việc Phiên họp thứ 43, sáng 10/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên và Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với tổ chức thuế, tổ chức hải quan giai đoạn 2016-2020.

Tờ trình của Chính phủ nêu rõ Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của tổ chức, cá nhân. Thuế suất thuế tài nguyên thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên.
Mức thuế suất thuế tài nguyên hiện đang được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13, trong đó quy định mức thuế suất cụ thể cho từng loại tài nguyên trên cơ sở Biểu khung thuế suất do Quốc hội quy định tại Luật Thuế tài nguyên. 
Theo đánh giá, về cơ bản Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 đã đạt được những mục tiêu, yêu cầu đề ra khi ban hành, tuy nhiên hiện mức thuế suất thuế tài nguyên còn hạn chế trong việc góp phần bảo vệ, khai thác hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế; đồng thời chưa đảm bảo phù hợp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng theo Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị.
Do vậy việc nghiên cứu, rà soát để điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên đối với từng nhóm, loại tài nguyên cho phù hợp là cần thiết nhằm tăng cường quản lý Nhà nước trong việc khai thác tài nguyên quốc gia; góp phần bảo vệ, khai thác hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên; thực hiện chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng; về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường...
Qua thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất, điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên đối với Nhóm khoáng sản kim loại; Nhóm khoáng sản không kim loại và Nhóm nước thiên nhiên theo như Tờ trình của Chính phủ. 
Cụ thể: Nhóm khoáng sản kim loại - Từ ngày 01/01/2016: Măng gan: tăng từ 11% lên 14% (mức trần theo Luật là 20%); Chì, kẽm: tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%); Khoáng sản kim loại khác (bao gồm cả côban, môlipđen, thủy ngân, manhê, vanađi): tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%). 
Từ ngày 1/1/2017: Sắt: tăng từ 12% lên 14% (mức trần theo Luật là 20%); Titan: Tăng từ 16% lên 18% (mức trần theo Luật là 20%); Vàng: tăng từ 15% lên 17% (mức trần theo Luật là 25%); Vônphờram, ăngtimoan: Tăng từ 18% lên 20% (mức trần theo Luật là 25%); Đồng: Tăng từ 13% lên 15% (mức trần theo Luật là 25%); Bạch kim, bạc, thiếc: Tăng từ 10% lên 12% (mức trần theo Luật là 25%).
Với mức thuế suất dự kiến như trên, với sản lượng, giá tính thuế như năm 2014, số thu thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại tăng 125 tỷ đồng so với năm 2014 (trong đó, từ ngày 01/01/2016 tăng 26,1 tỷ đồng; từ ngày 01/01/2017 tăng thêm 98,9 tỷ đồng).
Đối với Nhóm khoáng sản không kim loại: Từ ngày 01/01/2016: Cát: Tăng từ 11% lên mức trần 15%; Cát làm thủy tinh: Tăng từ 13% lên mức trần 15%; Gờranít: Tăng từ 10% lên 15% (mức trần theo Luật là 20%); Các khoáng sản không kim loại còn lại, trừ đá hoa trắng, than (gồm: Đất khai thác để san lấp và xây dựng công trình; đá, sỏi; đá nung vôi và sản xuất xi măng; sét chịu lửa; đôlômít, quắczít; cao lanh; mica, thạch anh kỹ thuật; apatit;...): tăng thêm 3%. 
Riêng kim cương, rubi, saphia: Tăng từ 22% lên 27% (mức trần theo Luật là 30%); Emôrốt, alếchxanđờrít, ôpan quý màu đen: Tăng từ 20% lên 25% (mức trần theo Luật là 30%) do là loại khoáng sản quý hiếm; khoáng sản không kim loại khác: Tăng từ 5% lên 10% (mức trần theo Luật là 25%). 
Từ ngày 01/01/2017, đá hoa trắng: Tăng từ 9% lên mức trần 15%; Than: Tăng từ 7% lên 10% đối với than antraxít hầm lò và than khác; tăng từ 9% lên 12% đối với than antraxít lộ thiên, than nâu, than mỡ (mức trần theo Luật đối với than là 20%). 
Với mức thuế suất dự kiến điều chỉnh, số thu thuế tài nguyên đối với nhóm khoáng sản không kim loại tăng khoảng 2.171,6 tỷ đồng so với số thu năm 2014 (trong đó từ ngày 01/01/2016 tăng khoảng 684,7 tỷ đồng; từ ngày 01/01/2017 tăng thêm khoảng 1.486,9 tỷ đồng).
Để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên nước, khuyến khích sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tăng mức thuế suất đối với nhóm nước thiên nhiên. Cụ thể: Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp: tăng từ mức sàn 8% lên mức trần 10%. 
Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện: tăng từ 4% lên mức trần 5%.... Với mức thuế suất dự kiến điều chỉnh, số thu thuế tài nguyên đối với nhóm nước thiên nhiên khoảng 4.352,7 tỷ đồng, tăng 887,7 tỷ đồng so với số thu năm 2014 (trong đó số thu từ nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện tăng 775,1 tỷ đồng).
Về thuế suất đối với nhóm sản phẩm rừng tự nhiên, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước và một số ý kiến khác không nhất trí với Tờ trình của Chính phủ (giảm mức thuế suất đối với gỗ rừng tự nhiên như sau: Gỗ nhóm I: từ 35% xuống 30%; Gỗ nhóm II: từ 30% xuống 25%; Gỗ nhóm III, IV: từ 20% xuống 18%; Gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác: từ 15% xuống 12%.).
Các ý kiến đề nghị giữ nguyên mức thuế suất như hiện hành, vì hiện nay các sản phẩm gỗ nhóm I, II, III đều là các loại gỗ quý hiếm, chỉ có ở rừng tự nhiên. Việc giảm thuế suất đối với sản phẩm gỗ rừng tự nhiên vô tình khuyến khích việc khai thác, chặt phá rừng, tạo hiệu ứng không tốt đến người dân đồng thời, với mức giảm thuế tài nguyên theo báo cáo của Chính phủ là không lớn (6,9 tỷ đồng)....
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên.
Thời gian còn lại của phiên làm việc buổi sáng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với tổ chức thuế, tổ chức hải quan giai đoạn 2016-2020

Nguồn: vietnamplus.vn

Search

Hỗ trợ trực tuyến

KS. Lê Tứ Hải

Mobile: 0913.226.605

Trụ sở chính: Số 35 ngõ 31 phố Yên Bái II, Phường phố Huế, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

E. mail:

Phone : +84.24.3821.5566

Lịch sự kiện

Không có sự kiện tìm thấy

Search